Lịch sử của chương trình EB-5

By | 14/02/2015

Chương trình đầu tư định cư Mỹ, thường được gọi là EB-5, được ra đời bởi Đạo Luật Di Trú Hoa Kỳ do Quốc hội Mỹ ban hành vào năm 1990 (IMMACT90). Đạo luật mới ra đời đã tái cơ cấu lại hệ thống nhập cư của Mỹ dẫn đến những thay đổi lớn về các loại visa không di dân, quy định trục xuất, tăng giới hạn nhập cư hợp pháp và nhiều sửa đổi quan trọng khác. Quốc hội lập ra chương trình EB-5 để kích thích nền kinh tế Mỹ bằng cách cho các nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội sống và làm việc vĩnh viễn tại Mỹ sau khi họ đã đầu tư vào một doanh nghiệp thương mại. Năm 1993, Quốc hội thành lập Chương trình thí điểm đầu tư định cư để khuyến khích các nhà đầu tư quan tâm về chương trình visa EB-5. Chương trình thí điểm này đã thành lập các Trung tâm khu vực EB-5 . Trung tâm khu vực là các đơn vị kinh doanh được sự chấp thuận của sở Công dân và di trú Hoa Kỳ (USCIS) dùng để quản lý các khoản đầu tư EB-5 và tạo công ăn việc làm.

Visa EB-5 và những thay đổi trong thập niên 90

Một vài sửa đổi lớn cho chương trình EB-5 đã được thực hiện vào cuối năm 1990. Những thay đổi này được đưa ra do phát hiện được việc thực thi các quy định vô cùng lỏng lẻo và có nhiều sự gian lận trong đầu tư EB-5. Văn phòng khiếu nại hành chính (AAO), các đơn vị kháng cáo của USCIS, đã ban hành các yêu cầu về đầu tư cho EB-5 trong năm 1998. Những thay đổi này yêu cầu nhà đầu tư cung cấp bằng chứng chứng minh nguồn gốc của số tiền đầu tư là hợp pháp, rằng họ trực tiếp liên quan đến dự án và nó cấm đảm bảo lợi nhuận đầu tư. Sau khi các quy định mới được ban hành, số lượng ứng viên EB-5 giảm đáng kể.

AAO đã cố gắng để đảm bảo rằng các quy định về EB-5 được áp dụng thống nhất cho tất cả các đơn xin mới và để có hiệu lực, 4 quyết định đầu tiên cực kì quan trọng đã được đưa ra bởi Văn phòng kháng cáo hành chính của USCIS trong suốt thập kỷ 90 là Quyết định Ho, Izummi, Hsiung, và Quyết định Soffici. Những quyết định này vẫn còn hiệu lực cho tới tận bây giờ. Trong những quyết định này, AAO đã đưa ra những yêu cầu quan trọng về những quy định của chương trình bao gồm loại doanh nghiệp thương mại nào mới có thể nhận được khoản tiền đầu tư EB-5, sự hợp pháp của nguồn đầu tư, và việc quản lí khoản đầu tư.

Visa EB-5 và những cải cách trong giai đoạn 2000

Quốc hội thông qua Đạo luật gia hạn và mở rộng chương trình thí điểm cơ bản 2003 để giúp hồi sinh các chương trình EB-5. Hành động này yêu cầu Văn phòng Kế toán Chính phủ (GAO) tiến hành một cuộc điều tra kỹ lưỡng vào chương trình visa EB-5. Cuộc điều tra này cho thấy chỉ có một phần nhỏ trong số 10.000 thị thực cấp cho các chương trình EB-5 là thực sự được cấp mỗi năm. Phát hiện này đã thúc đẩy phải có thêm nhiều cải cách cho chương trình. Tiêu điểm trong năm 2005 là sự thành lập Ban Đầu tư và Trung tâm Khu vực (IRCU). Bộ phận này của USCIS ra đời chuyên về thẩm định và giám sát các chương trình EB-5, bao gồm cả trường hợp kiểm toán, thiết kế mẫu đơn, phát triển và cho ra đời các quy định và chính sách. Sự hình thành của các IRCU đã mang đến sự phối hợp tốt hơn và tăng độ tin cậy trong các chương trình EB-5.

Những thay đổi trong chính sách EB-5

USCIS ban hành sửa đổi hướng dẫn chính sách EB-5 trong năm 2009. Họ tập trung giải quyết EB-5 tại các trung tâm dịch vụ California (CSC) mà trước đó nó được thực hiện tại hai trung tâm khác nhau – California và Texas. Mặc dù chưa được thường xuyên nhưng chương trình EB-5 đã được cấp phép lại. Trong năm 2009, Tổng thống Obama mở rộng chương trình thí điểm đầu tư định cư EB-5 đến 30 tháng 9 năm 2012.

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (1 votes, average: 5.00 out of 5)
Loading...